Chuyên Mục "Di Tích"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Di Tích. Hiển thị tất cả bài đăng

Từ lúc nhỏ xíu, tôi đã thấy 2 kỷ vật cổ xưa này ở nhà Nội tôi giữa lòng Sài Gòn hiện đại: Đó là chiếc đồng hồ quả lắc và bức tranh phong cảnh bằng gỗ.
Trong đó, bức tranh bằng gỗ đã trên 100 năm, bởi cô Hai của tôi nói, nó có từ thời ông Cố, trong khi cô Hai nay đã 86 tuổi. Do đó, đây không chỉ là loại gỗ quý mà về niên đại, nó cũng rất có giá trị về lịch sử. Nội dung bức tranh thì đơn giản nhưng độc đáo là từ thời xưa đó, người thợ đã biết sáng tạo ra kiểu vẽ tranh trên gỗ mà lại nổi đường nét như thật. Kỷ vật thứ hai tuy ít tuổi hơn nhưng cũng đã gần 70 năm, đó là chiếc đồng hồ quả lắc, lâu lâu chú tôi phải lên dây thiều cho nó.
Đôi khi giá trị không phải là vật chất hay tiền bạc mà đó là những kỷ niệm được lưu giữ qua từng kỷ vật lịch sử!
DƯƠNG THANH

Khu di tích Đền Hùng là một quần thể kiến trúc linh thiêng của dân tộc trên núi Nghĩa Lĩnh ở Phú Thọ. Khu di tích Đền Hùng gồm có đền Hạ và chùa, Đền Giếng, Đền Trung, Đền Thượng và Lăng vua Hùng.
Đền Hạ
Thăm quan di tích đền Hùng từ chân núi Hùng rẽ qua Ðại môn (cổng đền) leo qua 225 bậc thang xây bằng gạch lên đến đền Hạ và chùa (Thiên Quang tự). Ðền được xây vào thế kỷ 15. 
Ðền Giếng
Từ lăng đi xuống, đền ở chân núi phía Ðông Nam. Trong đền có giếng Ngọc, bốn mùa đầy nước, trong vắt soi gương được. Ðền thờ Ngọc Hoa và Tiên Dung là con gái yêu của vua Hùng thứ 18 thường hay chải tóc và soi gương ở giếng này.
Đền Trung
Từ đền Hạ leo thêm 168 bậc đá nữa là tới đền Trung. Tương truyền nơi đây các vua Hùng lập quán xá để nghỉ ngơi và bàn việc với các lạc hầu. Cũng ở nơi đây hoàng tử Lang Liêu đã dâng bánh chưng, bánh giầy lên cho vua cha nhân dịp tết.
Đền Thượng
Từ đền Trung đi tiếp 102 bậc đá là đến đền Thượng, nơi các vua Hùng làm lễ tế Trời Đất, Thần Núi và Thần Lúa. Ðây cũng là nơi Thục Phán sau khi được vua Hùng thứ 18 truyền ngôi, dựng cột đá thề sẽ trông nom ngôi đền và giữ gìn cơ nghiệp nhà Hùng.
Lăng vua Hùng
Tương truyền là mộ vua Hùng Vương thứ 6. Sau khi Thánh Gióng đánh giặc Ân bay lên trời, vua Hùng đã hoá ở đây.
Ngày nay, ở gần Công Quán (nơi để tiếp khách thập phương) có Bảo tàng Hùng Vương được xây dựng tương đối lớn trưng bày nhiều hiện vật thời kỳ Hùng Vương dựng nước qua nền văn hoá thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt…
THANH NAM

Chùa Phổ Minh nằm ở thôn Tức Mạc, xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định với lễ hội chính: Từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm
Chùa Phổ Minh có tên thường gọi là Chùa Tháp do điểm nổi bật độc đáo của chùa là Tháp Phổ Minh, tháp gồm 14 tầng, cao 21,2m, nặng 700 tấn, mặt quay hướng Nam, mặt bằng được bố cục vuông, cạnh đáy của đế dài 5,21m, cửa các tầng ở 4 phía được trổ theo lối cuốn tò vò. Đây là một trong những dấu tích còn lại của một thời Hào khí Đông A – nhà Trần. Tương truyền, Chùa được Vua Trần Thái Tông cho xây dựng vào năm 1262 ở phía Tây cung Trùng Quang phủ Thiên Trường. Nhưng các bản văn khắc trên bia ghi chép lại chùa có từ thời Lý, được mở rộng với qui mô lớn vào thời Trần. Trải qua nhiều lần tu bổ nhưng chùa vẫn giữ được nhiều dấu tích nghệ thuật đời Trần.
Trong chùa có bày tượng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn (tượng nằm); tượng Trúc Lâm tam tổ dưới bóng trúc; một số tượng Phật đẹp lộng lẫy. Chuông lớn của chùa có khắc bản văn “Phổ Minh đỉnh tự” đúc năm 1796. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. Ngoài ra còn có cây thị cổ hàng trăm năm rất đẹp dáng.
HOÀNG THANH

Chùa Gò Kén là ngôi chùa cổ nhất ở Tây Ninh nằm ở vị trí cửa ngỏ vào TP Tây Ninh. Điểm đặc biệt nhất của ngôi chùa Phật Giáo này chính là nơi thành lập đạo Cao Đài nổi tiếng nhất của Tây Ninh.
Chùa được xây dựng vào thế kỷ 19 bằng tre, nứa, lá...đơn sơ với tên gọi là Thiền Lâm Tự. Từ quốc lộ nhìn vào ngôi chùa nổi bật lên tượng Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát đồ sộ, uy nghi với phía trước là cánh đồng lúa đẹp mắt. Con đường dẫn vào chùa cũng rất đẹp và mát mẻ với 2 hàng cây bên đường.
Đặc biệt, trong cuốn Đạo sử (đạo Cao Đài) do nữ Đầu sư Hương Hiếu biên soạn, có đoạn viết về chùa Gò Kén vào năm 1926 như sau: “Cảnh chùa này vốn của hoà thượng Như Nhãn ở chùa Giác Hải (Chợ Gạo) quyên tiền trong bổn đạo của ông mà lập ra. Tháng 7 năm Bính Dần (1926), ông tình nguyện dâng chùa ấy cho Đại đạo Tam Kỳ phổ độ để làm thánh thất.

Khi ấy chùa cất mới vừa xong, nhưng chưa sơn phết, chưa tráng xi măng và chung quanh chùa vẫn còn bụi cây sầm uất…”. Bởi thế mà ngày khai đạo Cao Đài 18.11.1926, tức đêm 14 rạng ngày 15/10 năm Bính Dần cũng là ngày khánh thành chùa Thiền Lâm, mà lúc này được coi như thánh thất đầu tiên của đạo Cao Đài.
HOÀNG THANH

Chùa Keo thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, với tên chữ là Thần Quang tự, một trong những ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn kiến trúc 400 năm tuổi.
Chùa do Thiền sư Dương Không Lộ xây dựng ở ven sông Hồng từ năm 1061 dưới thời Lý Thánh Tông, tại hương Giao Thủy, phủ Hà Thanh (nay thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định). Vì Giao Thủy có tên Nôm là Keo, nên ngôi chùa này cũng được gọi là chùa Keo.
Năm 1611, nước sông Hồng lên to làm ngập làng Giao Thủy. Một bộ phận dân cư dời đi nơi khác, lập thành làng Hành Thiện, xây dựng nên ngôi chùa Keo mới gọi là chùa Keo Dưới (Keo Hạ) hay chùa Keo Hành Thiện. Một bộ phận dân cư lập làng Dũng Nhuệ trên đất Thái Bình và cũng dựng lên một ngôi chùa, gọi là chùa Keo Trên (Keo Thượng), hay chùa Keo Thái Bình.
Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian.  Các công trình đều làm bằng gỗ lim và là nơi được các nghệ nhân điêu khắc thời nhà Hậu Lê chạm khắc rất tinh xảo.
Với những giá trị lịch sử và kiến trúc - nghệ thuật độc nhất vô nhị, chùa Keo Thái Bình đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đặc biệt của Việt Nam.
THANH NAM

Đình Thạnh Hòa ở phường Thốt Nốt (quận Thốt Nốt - TP Cần Thơ) nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp thành phố. Đây là ngôi đình thứ 2 của quận Thốt Nốt và là 1 trong 17 ngôi đình của Thành phố Cần Thơ được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp thành phố.
Đình được dân làng thôn Thạnh Hòa Trung lập bằng tre lá vào khoảng giữa thế kỷ 19 với tên gọi Đình Thạnh Hòa Trung Thôn để thờ Thần hoàng bổn cảnh và các bậc tiền nhân có công khai hoang, lập làng.
Đến năm 1902, đình được xây dựng mới trên diện tích hơn 1.420 mét vuông ngay khu vực chợ trung tâm huyện Thốt Nốt, cách vị trí cũ khoảng 1 km với thiết kế theo hình chữ Nhất, mặt quay về hướng Đông, bao gồm các hạng mục xây liền kề: nhà ca võ, nhà võ qui và chánh điện.
Đến năm 2009, quận Thốt Nốt được thành lập, đình được đổi tên là Đình Thạnh Hòa cho đến nay.
Trải qua hơn 100 năm, đình được người dân địa phương gìn giữ, tu bổ ngày một khang trang và vẫn duy trì tốt 2 lễ hội chính là Thượng điền và Hạ điền, thu hút sự tham gia đông đảo của người dân trong vùng. Qua đó, góp phần lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam
THANH NAM

Vốn được khởi công xây dựng từ năm 1933 và hoàn thành năm 1947 nhưng đến năm 1955 mới khánh thành, Tòa Thánh là một quần thể kiến trúc quy mô với gần 100 công trình lớn nhỏ khác nhau, được bố trí hài hòa trong khuôn viên rộng hơn 1km², xung quanh cây cảnh xanh tươi.
Tổng thể Tòa Thánh Tây Ninh mang hình tượng Long Mã bái sư, với chiều dài 97.5m, chiều rộng 22m, theo phong cách kiến trúc đặc trưng của đạo Cao Đài, và có sự giao thoa nghệ thuật trang trí giữa Á Đông và phương Tây. Tòa thánh được chống đỡ bằng 156 cột tròn lớn nhỏ, vững chắc
Du khách có thể đến tham quan Tòa Thánh Tây Ninh vào nhiều khung giờ khác nhau trong ngày, nhưng thường sẽ chọn giờ lễ chính (12h trưa) để vừa chiêm ngưỡng kiến trúc, vừa kết hợp xem thêm phương cách hành lễ rất trang trọng và đẹp mắt của đạo hữu Cao Đài. Trong tòa thánh sẽ có người hướng dẫn du khách miễn phí, tuy nhiên cũng cần lưu ý về một số quy tắc như: để giày dép bên ngoài, nói khẽ, muốn lên tầng trên chụp toàn cảnh thì cần hỏi trước.
THANH THANH

Nhà thờ cổ Phát Diệm - Ninh Bình xây dưng trong 35 năm (1865 - 1899) với chất liệu chính bằng đá nên còn gọi là nhà thờ đá. Nét độc đáo là mái vòm có sự giao thoa với Đình - Chùa uốn cong mềm mại thể hiện sự thoát tục...
Nhà thờ Phát Diệm là một quần thể nhà thờ Công giáo rộng khoảng 22 ha, nằm tại thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội khoảng 120 km về hướng Nam. Hiện nay, tỉnh Ninh Bình và các nhà nghiên cứu Nhật Bản đang hoàn thiện hồ sơ về kiến trúc nhà thờ Phát Diệm để đề nghị UNESCO công nhận nhà thờ Phát Diệm là di sản văn hóa thế giới. Nhà thờ đá Phát Diệm được báo chí đánh giá là một trong những nhà thờ đẹp nhất Việt Nam, được ví như "kinh đô công giáo" của Việt Nam. Đây là một công trình lớn, là nhà thờ chính tòa của giáo phận Phát Diệm rộng lớn ở phía bắc Việt Nam. Nhà thờ được xây dựng toàn bằng đá và gỗ. Nhà thờ Phát Diệm được khởi công vào năm 1875 và đến năm 1898 thì cơ bản hoàn thành. Nét độc đáo của công trình này ở chỗ: mặc dù là nhà thờ Công giáo nhưng được mô phỏng theo những nét kiến trúc đình chùa truyền thống của Việt Nam. Quần thể kiến trúc này được chủ trì xây dựng dần dần bởi linh mục Phêrô Trần Lục (còn gọi là cụ Sáu) - linh mục ở giáo phận Phát Diệm từ năm 1865.
THANH THANH

Ở tịnh xá Ngọc Ban (TP Buôn Ma Thuột - ĐakLak) có một tượng Phật Bà Quán Thế Âm bằng gỗ cây Thủy Tùng cổ rất linh thiêng, nhiều Phật tử cầu được ước thấy nên được truyền tụng khắp nơi.
Cách đây gần 10 năm, ở tận huyện Krông Năng, phía Đông Bắc tỉnh Đăk Lăk có một nhóm 4-5 người đồng bào Ê Đê hì hục đào một gốc cây to có đường kính tới 2m nằm lẩn sâu trong những lớp bùn đất. Gốc cây đó chỉ còn một phần thân nhưng rất lớn tới 3 người ôm mới hết. Lúc ấy tình cờ có người kiểm lâm đi ngang qua thấy, biết là cây gỗ quý hiếm nên đã ngỏ ý mua lại, và nhóm người dân tộc đồng ý bán với giá 10 triệu đồng. Sau đó, người kiểm lâm đã hiến tặng cho tịnh xá với ý nguyện tạc một tượng Phật Bà Quán Thế Âm.
Nhận được gốc cây lớn vô cùng quý giá như thế, đích thân sư bà Ni trưởng Thích Nữ Hoa Liên lặn lội tới Gia Lai, rồi ra Hà Nội, tìm khắp các nơi thợ tạc tượng danh tiếng nhất rồi mời về. Lạ kỳ một điều là hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến nhưng đều lắc đầu trở về vì không làm được. Gốc cây thủy tùng nằm ở đó được dựng lên để các nhóm thợ tạc đẽo. Nhưng việc dựng được gốc cây này lên cũng gian trân lắm. Hai chiếc xe cẩu cỡ lớn được điều tới để dựng gốc cây lên nhưng mãi mà vẫn không được. Cứ luồn dây cáp bằng thép vào để nâng lên thì cái thì đứt, cái thì tuột, rồi đang nâng lên nửa chừng thì bị chết máy. Nhiều người lấy làm lạ lắm nhưng không thể giải thích được vì sao. Sư bà phải đích thân lập đàn chay cúng nguyện mất một buổi, sau đó mọi sự mới thuận buồm xuôi gió. Lúc ấy chỉ cần một chiếc cẩu nâng lên rất nhẹ nhàng!”. 
Thế nhưng việc tạc đẽo tượng lại tiếp tục xảy ra những sự cố. Khi các thợ bắt tay vào công việc thì chẳng hiểu sao búa đục cái thì gãy, cái thì mẻ hết. Gốc cây thủy tùng lúc ấy bỗng dưng cứng lại như đá, không thể nào đục đẽo được. Hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến làm việc đều bị như thế cả. Chỉ cần đưa đục chạm vào gõ mấy cái thì y như rằng chiếc đục sẽ bị mẻ, dùi thì gãy, có người thì gõ cả vào tay. Biết bức tượng phật mà sư bà định tạc đẽo kén duyên người tạc, nên sư bà lại lặn lội đi khắp nơi tìm các nhóm thợ về thực hiện công việc. Sau đó, có người mách nước có một nhóm thợ ở Quảng Nam có tay nghề rất cao, thế là sư bà lặn lội tìm tới một xưởng gỗ ở Hội An tìm được một nhóm thợ nhận lời về Tịnh xá làm việc. Nhóm thợ này là 5-6 nghệ nhân, đều là những chàng trai trẻ độ tuổi 20-22 tuổi, chưa ai lập gia đình. Về Tịnh xá, họ sớm bắt tay vào tạc tượng. Họ còn trẻ, nên vừa làm việc hăng say, vừa bật nhạc, hát hò vui nhộn. Các ni sư cũng hiểu, cùng trợ duyên cho họ, thêm động lực chuyên tâm công việc. Gỗ cây thủy tùng lúc ấy chẳng hiểu vì sao lại mềm như nến sáp, chỉ cần dùng dao nhỏ cũng gọt được nên chừng 2 tháng sau, bức tượng hoàn thành theo bản thiết kế của những nghệ nhân. 
Tiếng lành đồn xa, nhiều Phật tử khắp nơi lặn lội đến viếng tượng và cầu nguyện đều được đáp ứng nên luôn trở lại để trả lễ. Vì vậy, đây được xem là "Bảo vật" của tịnh xá Ngọc Ban dù ở nơi hẻo lánh và xa xôi!
THANH THANH

Ao bà Om hay còn gọi là ao Vuông thuộc tỉnh Trà Vinh, cách TP Trà Vinh khoảng 7 km thuộc QL53 về phía Tây Nam. Ao có hình chử nhật rộng 300m và dài 500m. Trên mặt ao phụ đầy hoa sen và hoa súng khi nở rất rực rỡ. Nhưng độc đáo nhất vẫn là truyền thuyết về ao bà Om:
Theo truyền thuyết, để có hồ nước ngọt dùng trong mùa khô, dân làng người Khmer tổ chức cuộc thi đào ao giữa hai nhóm phái nam và nữ đồng thời cũng để quyết định phái nào thua sẽ phải đi cưới hỏi phái kia. Bên phái nam ỷ sức mạnh, vừa làm vừa chơi. Bên phái nữ dưới sự lãnh đạo của người tên Om, dùng nhiều mưu mẹo để trì hoãn nhóm nam. Khi đào gần xong, họ còn cho thả đèn lồng ở phía đông làm cho nhóm nam tưởng là sao Mai đã mọc nên nghỉ sớm. Sau cuộc thi, nhóm nam thua cuộc và ao của họ hiện vẫn còn dấu tích tuy đã cạn nước. Ao của nhóm nữ được đặt tên theo tên của bà Om.
Năm 1994, quần thể chùa Âng và ao Bà Om đã được Bộ Văn hóa - Du lịch công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia.
THANH THANH

Có một nơi mà khi về với đất Tổ Hùng Vương, du khách không nên bỏ lỡ, ấy là làng cổ Hùng Lô - mảnh đất hơn 300 năm tuổi nằm bên bờ sông Lô. Là quần thể di tích có giá trị về văn hóa và lịch sử, những năm gần đây, nơi này đang trở thành điểm đến hấp dẫn trong hành trình du lịch tâm linh Phú Thọ.
Làng cổ Hùng Lô chỉ cách Đền Hùng chừng 10 km. Trải qua bao biến thiên, thăng trầm lịch sử, nơi đây vẫn bảo tồn được gần như nguyên vẹn kiến trúc ngôi đình cổ, di tích lịch sử cấp quốc gia đã được công nhận từ năm 1990. Tương truyền, đây vốn là nơi Vua Hùng cùng công chúa và các quần thần dừng chân nghỉ ngơi trong một chuyến du ngoạn. Vua thấy nơi này trù phú, cây cối tốt tươi, lại có khí thiêng từ lòng đất bốc lên nên cho đây là chốn địa linh. Sau này, dân làng đã dựng miếu thờ Vua Hùng để đời đời nhớ ơn Vương tổ. Đến thời vua Lê Hy Tông, đình bắt đầu được xây dựng, hướng về núi Nghĩa Lĩnh.
Đình Hùng Lô là quần thể di tích lịch sử văn hóa được xây trên dải đất rộng, gồm nhiều hạng mục công trình như: tòa Đại đình, Phương Đình, Lầu Chuông, Lầu Trống, Nhà tiền tế... Tất cả đều được xây dựng bằng những loại gỗ quý như đinh, lim, sến, táu... Tòa Đại đình được cấu trúc theo kiến trúc truyền thống ba gian, hai chái; cả ba gian đều có bàn thờ. Các gian tiền tế được xây theo cấu trúc năm gian, hai chái. Hai bên đình là nhà thờ Phật và bệ thờ Thần Nông. Ngoài ra, quần thể di tích còn có khu Văn chỉ thờ Khổng Tử, cũng là nơi ghi danh truyền thống hiếu học của nhân dân Hùng Lô; nhà Yến Lão là nơi các bậc cao niên dự việc làng và hiện là nơi sinh hoạt, hội họp của những người cao tuổi. Khu sân đình được bài trí thoáng rộng với hòn non bộ, cây si, cây đa rủ bóng...
Đến thăm đình Hùng Lô, không chỉ được nghe những điển tích lịch sử để thêm hiểu, tự hào về truyền thống, nguồn cội; du khách còn được chiêm ngưỡng những giá trị nghệ thuật điêu khắc đỉnh cao đặc trưng thời Hậu Lê trên gỗ, gốm, chủ yếu tập trung tại tòa Đại đình. Nơi đây cũng còn lưu giữ được tương đối đầy đủ các đồ thờ tự như đỉnh, đèn, lư hương, hạc... bằng gốm, đồng chạm khắc tinh xảo; tiêu biểu nhất là năm cỗ kiệu sơn son thếp vàng, hệ thống 43 câu đối... Kể từ khi được đưa vào phục vụ tham quan, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch, du khách đặt lịch đến thăm đình Hùng Lô còn được phục vụ hát Xoan ngay tại cửa đình. Điểm đặc biệt là những giai điệu của loại hình di sản văn hóa phi vật thể này khi được thể hiện qua tiếng hát, điệu nhảy của những người con sinh ra và lớn lên nơi phường xoan gốc Hùng Lô bỗng trở nên hấp dẫn và có sức lôi cuốn kỳ lạ.
Làm nên vẻ cổ kính kỳ diệu của làng cổ Hùng Lô, ngoài đình cổ còn phải kể tới những ngôi nhà cổ. Hiện xã Hùng Lô còn lưu giữ được gần 50 ngôi nhà cổ có tuổi đời từ một trăm đến hai trăm năm. Nguyên liệu làm nhà đều từ gỗ, tre, nứa và được chạm khắc các biểu tượng như long, ly, quy, phượng, tùng, cúc, trúc, mai. Các ngôi nhà hầu như được thiết kế theo kiểu ba gian với hệ thống cửa sổ, cửa ra vào thông thoáng, phía trước là khoảnh sân rộng. Hiện nơi đây đã có một số gia đình kinh doanh du lịch homestay, cho khách tham quan kết hợp nghỉ ngơi, ăn uống. Ý thức được giá trị của những ngôi nhà cổ đối với du lịch và văn hóa nên người dân đang ra sức tôn tạo, bảo tồn. Điều đặc biệt hấp dẫn là ngoài vẻ đẹp cổ kính cùng các giá trị lịch sử, văn hóa lâu đời, Hùng Lô còn là ngôi làng sở hữu kỹ thuật làm miến truyền thống. Đây không chỉ là nghề gia truyền mang đến thu nhập cho các hộ gia đình mà còn đang dần trở thành sản phẩm du lịch thú vị cho làng cổ. Đến với Hùng Lô, du khách sẽ được tìm hiểu về các công đoạn làm miến, được nếm thử đặc sản nổi tiếng của ngôi làng này và nếu có nhu cầu, còn được tham gia trải nghiệm một số công đoạn làm miến.
Với hình thức kết hợp du lịch tâm linh - làng nghề dựa trên tài nguyên văn hóa, lịch sử dồi dào, làng cổ Hùng Lô hứa hẹn sẽ trở thành điểm đến ngày càng được nhiều du khách trong, ngoài nước biết đến. Giám đốc Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh Phú Thọ Phùng Hoa Lê cho biết: Tỉnh đang quy hoạch lại không gian điểm du lịch văn hóa đình Hùng Lô thành điểm đến tâm linh, bước đầu hình thành tuyến tham quan: Đền Hùng - đình Hùng Lô. Trung tâm sẽ phối hợp với chính quyền địa phương, nhất là người dân để hoàn thiện các sản phẩm du lịch cộng đồng như: dịch vụ homestay tại làng cổ, tham quan bằng xe đạp... Việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch sẽ giúp du khách đến với vùng đất Tổ không chỉ trong dịp giỗ Vua Hùng mà kéo dài suốt cả năm.
T.T

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.